Trong số các vua nhà Nguyễn, vua Thành Thái là một trong những hoàng đế có nhiều vợ con. Và đặc biệt rất dễ dãi so với các vị vua tuyển vợ, lựa chọn hậu cung từ trước đến nay.

Chân dung lịch sử của vị vua tuyển vợ lạ nhất lịch sử.

Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân. Là con thứ 7 của vua Dục Đức – vị vua kém may mắn nhất trong số các vua nhà Nguyễn khi chỉ tại vị được 3 ngày thì bị phế truất và bị giết. Vua Thành Thái lên ngôi khi mới 10 tuổi trong bối cảnh khá đặc biệt của triều Nguyễn.

Ông sinh năm Kỷ Mão (1879). Sau khi vua Đồng Khánh mất vào năm Mậu Tý (1888). Ông được Khâm sứ Pháp Rheimart và Nam triều chọn nối ngôi (do sự khéo léo của Diệp Văn Cương, chồng của Công nữ Thiện Niệm – cô ruột của ông trong quá trình thông dịch giữa các quan Nam triều và Công sứ). Lễ đăng quang tổ chức vào ngày mồng 2 Tết năm Kỷ Sửu (1889) tại điện Thái Hòa mà không có “ngọc tỷ truyền quốc” và cũng chẳng có “di chiếu”. Hiểu rõ tình cảnh của vua cha và bối cảnh đất nước lúc bấy giờ nên vua Thành Thái khá thận trọng và già dặn trước tuổi.

ong-vua-tuyen-vo-dac-biet-nhat-lich-su-phong-kien-viet-nam-đóng-gói-tri-thức-Trần-Thị-Minh-Anh-KSC-H1
Chân dung vua Thành Thái

Trong số các vua nhà Nguyễn, Thành Thái là một trong những vua tuyển vợ không ít, có nhiều con. Theo thống kê của Nguyễn Phước tộc thế phả ông có tới 19 hoàng tử và 26 hoàng nữ. Sở dĩ ông có nhiều con như vậy là vì trong việc tuyển lựa phi tần, ông rất dễ dàng.

Thành Thái – ông vua tuyển vợ tạo nên một giai thoại đặc biệt lưu truyền .

Sách Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam của tác giả Đinh Công Vĩ cho biết:

Có lần ông cải trang thành một thư sinh rất mực nho nhã lên Kim Long chơi. Chơi chán rồi, ông cùng mấy người tùy tùng đủng đỉnh dạo xuống bến đò. Bỗng thấy cô lái đò xinh đẹp, hấp dẫn, ông ỡm ờ hỏi cô gái: “Này o tê, có ưng làm vợ của vua không?”

Vốn dĩ chưa bao giờ gặp mặt vua. Cô lái đò không bao giờ nghĩ rằng người trước mặt mình chính là vua. Chỉ nghĩ rằng ông khách phong lưu này là công tử nhà giàu đi chơi nên trước câu hỏi mà cô nghĩ là trêu trọc ấy. Cô cũng đánh bạo nói nửa đùa nửa thật bảo “Ưng”. Chẳng ngờ cô vừa nói xong thì ông khách cầm ngay lấy tay nàng, kéo ra mũi thuyền, mặc cho nàng mặt đỏ thẹn thùng. Ông liếc mắt đưa tình nói: “Rứa thì Quí phi ngồi nghỉ, để trẫm chèo cho!

Nói xong ông giành ngay lấy tay chèo từ tay nàng. Đích thân chèo, cho đò xuôi dòng Hương giang từ Kim Long đến bến Nghinh Lương trước Phú Văn Lâu. Đò cập bến, ông bảo các người cùng đi tiễn đưa “quí phi vào nội” thể theo nguyện ước của nàng. Rồi sau đó mới báo về gia đình cô gái, kèm theo lễ vật. Tự dưng cô lái đò trở thành vợ vua. Ngoài ra, chuyện tuyển vợ của Thành Thái còn được áp dụng như một cách để ông tuyển binh chống Pháp.

Ông còn giả vờ đóng vai một người hám sắc, đi bắt phụ nữ nhập cung để luyện tập quân sự. Hình thành đội nữ binh riêng của ông, dưới vẻ ngoài là cung nữ vợ vua. Ông từng nhờ họa sĩ Lê Văn Miến. (tốt nghiệp trường Beaux Arts – Paris) vẽ các kiểu súng để sai đúc trang bị cho các nữ binh. Để che mắt giặc Pháp, nhiều khi ông giả điên; cào cấu các bà vợ xuất thân trong các gia đình quan lại làm tay sai cho Pháp.

Một đội nữ binh thường trực ở cung cấm thường có 50 người. Sau khi tập luyện quân sự đã thành thục; đội nữ binh 50 người ấy được bí mật trao trả về gia đình; đợi khi cần thì nhập ngũ chống Pháp, sau đó tuyển thêm 50 nữ binh mới…
Nếu vua Thành Thái không bị thực dân Pháp và tay sai vu cho là điên, bắt đi đày ở nước ngoài, thì hẳn đội nữ binh ấy sẽ có tác dụng trong việc cứu nước.

ong-vua-tuyen-vo-dac-biet-nhat-lich-su-phong-kien-viet-nam-đóng-gói-tri-thức-Trần-Thị-Minh-Anh-KSC-H2
Đội quân “nữ sát thủ” của vị vua yêu nước Thành Thái

Bị phế truất vì quá yêu nước.

Năm 1907 bị chính quyền thực dân phát hiện có tư tưởng chống Pháp khi được cho là ngấm ngầm thành lập đội nữ binh trong cung và tự nghiên cứu các bản thiết kế vũ khí. Vua Thành Thái đành giả làm người mất trí.

Tuy nhiên người Pháp nhân cơ hội đó ép ông phải thoái vị.

Để hợp thức hóa, Tòa Khâm sứ cùng Hội đồng phụ chính bố cáo cho quốc dân biết: 

“Nhà vua bị điên. Nên vì quyền lợi của đất nước chính phủ Pháp-Việt đã phế vua và lập vua mới.”

Tháng 7 năm 1907 (tức Thành Thái năm thứ 19), Chế thoái vị được ban xuống: 

Phụng mệnh trời hưng vận nước Hoàng đế ban chế rằng:

Vua là chủ của trời đất cùng với thần và người, đặc biệt quan trọng vậy. Trẫm đức mỏng nối ngôi được 19 năm; cậy nhờ Đại Pháp bảo hộ cùng người hiền giúp đỡ mới có hôm nay. Duy tích âu lo mà thành bệnh thật khó kham nổi việc giữ ngôi. Nước Việt ta từ thời Trần, Lê cũng có thi hành việc này. Nay đã bàn với quý Toàn quyền Đại thần lựa chọn Hoàng vương tử Vĩnh San giữ ngôi vị để nối việc tôn miếu xã tắc, chẳng dám có lòng riêng. Trẫm lui về ở điện riêng để tĩnh dưỡng. Còn về việc làm cho hợp lệ thì truyền Đình thần phủ Tôn nhân trình với quý Toàn quyền Đại thần xem xét, bố cáo trong ngoài đều biết.

Kính thay

Năm 1916 ông bị đày sang đảo Reunion – Châu Phi cùng với người con trai cũng bị Pháp phế truất đó là vua Duy Tân. Trong những năm lưu đày ở hải ngoại, vị cựu hoàng phải sống cuộc đời khá vất vả thanh đạm.

Sau năm 1945, nhờ sự vận động của một số tổ chức. Ông được trở về Việt Nam và sống cùng gia đình tại Vũng Tàu.

Ngày 20 tháng 3 năm 1954 ông mất tại Sài Gòn thọ 75 tuổi. Chấm dứt cuộc đời một vị vua, một cựu hoàng nhiều éo le uẩn ức. Mộ ông sau này được đưa về an táng cùng với vua cha là Dục Đức tại An Lăng phường An Cựu thành phố Huế./.

Trần Thị Minh Anh tổng hợp.

Xem thêm

10 đế vương vang danh sử Việt.

Nhân vật lịch sử Việt Nam qua nét vẽ của họa sĩ Thái Lan