Tuệ Tĩnh (1330 – 1400) tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái; huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương). Năm 6 tuổi, ông phải sống mồ côi cha lẫn mẹ và được nuôi dạy ở chùa Hải Triều lấy pháp danh là Tuệ Tĩnh và được cho ăn học ở chùa Keo. Lớn lên với một sở thích tìm hiểu về thuốc để chữa bệnh và một tư duy nhạy bén. Ông chuyên tâm tìm hiểu về công dụng cũng như cách trồng của các loại thuốc. Đặc biệt là về thuốc Nam.

Danh y Tuệ Tĩnh (1330 – 1400)

Là một số dược liệu xuất hiện ở phía Nam. Được tính theo địa lý Việt Nam đến nay. Khác với các loại thuốc Bắc khác, được xuất hiện ở phương Bắc chủ yếu là Trung Quốc. Do điều kiện khí hậu mà nguyên liệu của thuốc sẽ khác nhau. Ở phương Nam với khí hậu nóng ẩm; mưa nhiều các loại cây cỏ rất dễ phát triển và được ưa chuộng làm thuốc. Trái với phương Bắc, nơi đây khí hậu khắc nghiệt; khét và khô thích hợp sử dụng các loại củ để làm nguyên liệu thuốc.

Được hình thành trong quá trình phát triển của các bộ lạc xưa. Trong quá trình tìm kiếm thức ăn và phải đối mặt với một số loại bệnh. Con người đã bắt đầu nhận thấy các công dụng của cây thuốc và được lưu trữ bằng kinh nghiệm trong bộ lạc với nhau và không có ý định truyền rộng ra bên ngoài.

Thuốc Nam thành phần chủ yếu là cây cỏ, đưa con người hiểu được mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường sống.
Dược liệu gần rủi với con người xây dựng mối quan hệ mật thiết

Mãi về sau, đến thời phong kiến mới xuất hiện các thầy thuốc chữa bệnh nhưng mang nhiều kiến thức về thuốc Bắc, được người Trung Hoa lưu vào sách và lưu truyền. Bắt đầu hình thành nên các nghiên cứu về thảo dược về thuốc Nam. Tiêu biểu nhất không thể không đề cập đến “ông tổ” của thuốc Nam. Tuệ Tĩnh được mệnh danh là thánh thuốc Nam. Người đầu tiên nêu cao khẩu hiệu, “Nam dược trị Nam nhân” thuốc Nam trị bệnh cho người Nam. Được thể hiện qua tác phẩm “Nam dược thần hiệu” với 11 quyển sách, gồm 580 vị thuốc Nam, gồm 3873 bài thuốc chữa 182 chứng bệnh trong 10 khoa lâm sàng.

Đặc biệt, ông có bộ “Hồng Nghĩa giác tư y thư” (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Nôm Đường luật, và bài “Phú thuốc Nam” 630 vị cũng bằng chữ Nôm. Thơ văn Nôm đời Trần rất hiếm, nếu quả thực đó là tác phẩm của Tuệ Tĩnh thì chúng không chỉ giá trị trong y học mà còn là tác phẩm quan trọng trong lịch sử văn học bởi vì đây là các tác phẩm ở thời kì đầu của văn học chữ Nôm.

Mặc dù, ông đậu một số kì thi lớn như: 22 tuổi thi đỗ Thái học sinh dưới triều vua Trần Dụ Tông; 45 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ tức Hoàng Giáp nhưng ông vẫn chưa bước chân vào mà chuyên tâm tìm hiểu và Y dược và phát triển, lưu truyền về sau. Trong quá trình tu hành, ông cùng các tăng sĩ nghiên cứu và truyền dạy kiến thức về thuốc Nam và cách chữa bệnh.

Tuệ Tĩnh với một vốn kiến thức sâu rộng và uyên bác về thuốc Nam cũng như cách chữa bệnh. Năm 1385, năm 55 tuổi ông bị cống sang chữa bệnh cho vua và hoàng hậu triều Minh. Với sự am hiểu về thuốc ông đã chữa khỏi bệnh cho vua và hoàng hậu nhà Minh mặc dù trước đó, nhiều danh y nhà Minh và một số thầy thuốc nước Nhật cũng bó tay.

Sau khi chữa khỏi bệnh cho nhà vua và hoàng hậu ông được phong làm “Đại Y Thiền Sư”. Kể từ đó, ông chưa được về quay trở về lại với quê hương. Dẫu vậy, ông vẫn chuyên tâm nghiên cứu, phát triển thêm về thuốc. Sau này, chỉ được nghe tin ông qua đời tại Giang Nam, Trung Quốc và không rõ năm mất.

Mãi về sau, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho là người cùng làng với Tuệ Tĩnh; có dịp ghé sang Trung Quốc và đã đến viếng thăm mộ của Tuệ Tĩnh; đọc được dòng trên tấm bia: “Về sau có ai bên nước sang, nhớ cho hài cốt tôi về với”. Một người hết lòng trong lĩnh vực nghiên cứu phương thuốc; cứu người kèm theo đó là một tấm lòng luôn hướng về quê hương; khiến cả tiến sĩ Nguyễn Danh Nho cũng phải xúc động. Tìm thuê người khắc lại tấm bia cùng các dòng chữ trên đó của Tuệ Tĩnh mang về lại quê nhà. Đến hiện tại, có ba nơi chính có thờ danh y Tuệ Tĩnh: Chùa Giám(nơi ông làm thuốc), Đền Bia(nơi bia đá của ông bị chìm), Đền Xưa(nơi ông sinh ra).

Ba nơi thờ chính của danh y Tuệ Tĩnh hiện nay: Chùa Giám, Đền Bia và Đền Xưa
Hiện nay, có 3 nơi thờ chính của danh y Tuệ Tĩnh

Một đời đi tìm các phương thuốc, cách trồng, chăm sóc cây thuốc, truyền lại các đời về sau. Được biết trong lúc ông còn ở thôn quê đã xây dựng được 24 ngôi chùa; phát triển ngôi chùa thành nơi để thăm khám, chữa bệnh. Người có công lao to lớn trong việc xây dựng một quan điểm y học độc lập, tự chủ, sát với thực tế Việt Nam. Đưa con người nhận thấy mối quan hệ mật thiết với môi trường sống xung quanh.

Nguyễn Quang Thanh

Kẻ ăn mày hay người xuất chúng – Phạm Ngũ Thư

HOÀNG HẬU CUỐI CÙNG CỦA ĐẤT VIỆT – NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU

Tôn Thất Tùng – Ánh lửa đỏ của ngành y học Việt Nam