Tô Duy Hợp và thuyết Khinh – Trọng: Thuyết Khinh – Trọng là một thuyết phổ quát, phổ dụng. Được hình thành trong quá trình nghiên cứu triết học và xã hội học mà GS Tô Duy Hợp đã dành trọn tâm huyết, sức lực của cuộc đời để cống hiến. Đồng thời đây là thành quả đóng góp của ông trong cuộc đời nghiên cứu lý luận & khoa học của mình. Để hiểu rõ hơn về thuyết này, có lẽ nên cần thiết phải nhìn lại cuộc đời của tác giả và quá trình xây dựng vận dụng lý thuyết của ông.

GS. TÔ DUY HỢP (Quảng Ngãi – 1942)

Là con trong một gia đình cán bộ hoạt động cách mạng. Vì điều kiện sống khó khăn nên ông có tinh thần tự lập sớm, đồng thời cũng có một tâm hồn tự do và phóng khoáng. Đây cũng chính là tiền đề cho cuộc đời vị Giáo sư đáng kính sau này.

Bước ngoặt đầu

  • Năm 1961, ông được cử sang Liên Xô học đại học, ngành Triết học. Tại đây, ông theo học chuyên ngành Logic học được tiếp cận với những khái niệm, tài liệu về logic của Liên xô và thế giới. Như ông nói; “Quá trình học triết học ở Liên Xô chưa thật sự làm cho tôi rõ nét hơn về con đường mình lựa chọn sau này. Tuy nhiên, nó củng cố niềm yêu thích triết học. Đặc biệt, những tri thức ban đầu về Logic học giúp tôi có nền tảng lý luận & khoa học hơn trong quá trình tư duy về các sự vật, hiện tượng”. Nhưng không may năm 1964, Đảng Cộng sản Việt Nam đã yêu cầu các sinh viên, cán bộ đi học ở Liên Xô, đặc biệt là trong lĩnh vực triết học và khoa học xã hội phải về nước. Tô Duy Hợp rời Liên Xô khi chưa hoàn thành chương trình đại học triết học.

Sau khi về nước

  • Khi về nước, ông chuyển sang học ngành Vật lý hạt nhân tại Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  • Năm 1967-1974, dù làm công tác giảng dạy vật lý tại Đại học Xây dựng Hà Nội nhưng ông luôn chuẩn bị và chờ thời cơ để xin chuyển sang nghiên cứu về triết học theo đúng niềm đam mê “Nàng Triết” của mình.
  • Năm 1974, Tô Duy Hợp được về Viện Triết học (thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam) công tác. Tiếp tục nghiên cứu về chuyên môn chính từng học ở Liên Xô là Logic học.
  • 15 năm công tác tại Viện Triết học (1974-1989) là quãng thời gian quan trọng để Tô Duy hợp xây dựng quan điểm lý thuyết Khinh – Trọng của ông.
  • Năm 1989, ông chuyển qua Viện Xã hội học làm việc và mở đầu cho một chuyên ngành mới của ông Xã hội học nông thôn. Lúc này, ông phải tiến hành tự học về những kiến thức cơ bản nhất của một ngành mới và bắt đầu đi thực địa nghiên cứu xã hội học nông thôn.
  • Đầu những năm 2000, ông tiếp xúc với quan điểm của G. Ritzer trong Công trình “Contemporary sociological Theory” (Lý thuyết xã hội học đương đại, xuất bản 1992, ở Mỹ). Chính công trình này đã tạo nguồn cảm hứng cho ông tiếp tục tổng – tích hợp lý thuyết trong Xã hội học để hoàn thiện Lý thuyết Khinh – Trọng.

Công trình đầu tiên là cuốn “Khinh – Trọng một Quan điểm lý thuyết trong nghiên cứu triết học và xã hội học” (Nxb Thế giới, 2007). Đây là một tuyển tập gồm 36 bài viết của GS Tô Duy Hợp. Trong đó có 18 bài viết về Triết học và 18 bài viết về Xã hội học do ông tuyển chọn trong hàng chục công trình nghiên cứu đã công bố của mình.

Công trình thứ hai đóng vai trò vô cùng quan trọng và là nền tảng của toàn bộ Lý thuyết Khinh – Trọng đó là; “Khinh-Trọng Cơ sở lý thuyết” (Nxb Thế giới, 2012). Đây cũng là công trình ra đời khi GS Tô Duy Hợp tròn 70 tuổi. Một mốc thời gian đủ để nhìn lại và tổng kết những tâm huyết của cuộc đời hoạt động lý luận & khoa học.

Học thuyết Khinh – Trọng

Về Triết học; “Quan điểm Khinh – Trọng với tư cách là cơ sở lý luận và phương pháp luận của một triết học mới, xuất phát từ cặp phạm trù Khinh – Trọng như một cặp phạm trù cơ bản và nguyên tắc Khinh – Trọng như một định đề cơ bản. Nguyên tắc Khinh – Trọng là chủ thể thì tự chủ, còn khách thể thì tự nó có phân biệt hoặc/và không phân biệt, có điều chỉnh hoặc/và không điều chỉnh, có thay đổi hoặc/và không thay đổi Khinh – Trọng.

Việc hóa giải các song đề (chính đề hoặc/và phản đề) sẽ được thao tác qua việc lựa chọn hợp lý (và cả hợp tình) các khung mẫu Khinh – Trọng, bao gồm các khung mẫu phân biệt Khinh – Trọng có mức độ, các khung mẫu phân biệt Khinh – Trọng thái quá và cả các khung mẫu không phân biệt Khinh – Trọng. Sự điều chỉnh hoặc thay đổi Khinh – Trọng có nghĩa là điều chỉnh hoặc thay đổi các khung mẫu nêu trên. Các khung mẫu mang tính phổ quát, phổ dụng cho việc thấu hiểu và hóa giải các song đề lý luận và thực tiễn”

Nếu nghiên cứu triết học là con đường để Tô Duy Hợp đến với các quan điểm Khinh – Trọng, thì Xã hội học là con đường để ông khẳng định lại quan điểm của mình, và vận dụng trong các nghiên cứu cụ thể để xây dựng hệ thống lý thuyết.

Như ông đã trình bày; “Tiếp cận Khinh – Trọng trong nghiên cứu xã hội học không đơn giản chỉ là kết quả vận dụng lôgích Kinh – Trọng. Bởi lẽ lôgích Khinh – Trọng chính hiệu (dưới dạng phổ quát và phổ dụng) không có sẵn ngay từ đầu mà dần dần định hình trong quá trình triển khai nghiên cứu triết học và xã hội học. Nghiên cứu xã hội học đã góp phần định hình quan điểm Khinh – Trọng và các khung mẫu. Khinh – Trọng bằng con đường quy nạp khoa học đã góp phần khẳng định lôgích Khinh – Trọng với tư cách là cơ sở của triết học mới”

Hai công trình về học thuyết khinh-trọng của GS. Tô Duy Hợp

Tô Duy Hợp & lý thuyết khinh trọng

Sự hình thành Lý thuyết Khinh – Trọng là quá trình tổng-tích hợp các Lý thuyết triết học và xã hội học kim – cổ Đông – Tây. Trong quá trình nghiên cứu ông đã dành nhiều tâm huyết để khảo sát các tư tưởng quan trọng trong triết học phương Đông và phương Tây. Ông quan tâm nhiều đến các triết lý dân gian của Việt Nam, hay Tư tưởng của nhiều người đi trước. Từ Nguyễn Trãi; Nguyễn Bỉnh Khiêm; Ngô Thì Nhậm; Lê Quý Đôn; Nguyễn Du; Hồ Chí Minh; Phan Chu Trinh; Phan Bội Châu… Hay khảo sát quan điểm của các nhà nghiên cứu đương thời như Phan Ngọc; Trần Quốc Vượng; Hà Văn Tấn; Cao Xuân Huy; Trần Ngọc Thêm…

Cùng với đó là việc khảo sát quan điểm về triết học phương Tây để tìm những hạt nhân hợp lý cho quan điểm lý thuyết.

Như GS Tô Duy Hợp đã nhấn mạnh:
“Lý thuyết khinh-trọng, với tư cách là một khung lý thuyết mới mang tính phổ quát; phổ dụng sẽ có cơ sở riêng = hạt nhân của nó bao gồm 3 thành phần:
1- Các khái niệm cơ bản.
2- Các định đề cơ bản.
3- Cơ sở lôgích khinh-trọng.
Hướng dẫn quá trình luận thuyết và dụng thuyết Khinh – Trọng. Ngoài ra, do đặc điểm tự phản tư của nó cơ sở riêng của lý thuyết Khinh – Trọng sẽ trở thành cơ sở siêu lý thuyết của chính nó. Điều đó có nghĩa rằng lý thuyết Khinh – Trọng có đặc trưng kép:
Vừa là lý thuyết vừa là siêu lý thuyết.

Nói tóm lại, lý thuyết Khinh – Trọng là một lý thuyết khoa học phổ quát, phổ dụng. Được hình thành trên cơ sở các nghiên cứu triết học và xã hội học của GS. Tô Duy Hợp và đang được vận dụng trong các nghiên cứu cụ thể về các đối tượng bất kỳ trong tự nhiên; xã hội; và tư duy.

Như GS Tô Duy Hợp chia sẻ có hai phương thức để xây dựng Lý thuyết.
– Thứ nhất là khái quát hóa những kinh nghiệm hay khái quát hóa những dữ liệu thực nghiệm khoa học. Chủ yếu bằng con đường quy nạp (ngoại suy) / loại tỷ (loại suy) để xây dựng thuyết.
– Thứ hai là xây dựng Lý thuyết mới từ những lý thuyết cũ qua quá trình phân tích; phê phán; đề xuất ý tưởng mới. Hay theo con đường suy diễn (nội suy) từ các lý thuyết tổng quát trừu tượng để có được lý thuyết cụ thể hơn

Trên cơ sở đó, Lý thuyết Kinh – Trọng được ông xây dựng dựa trên cả hai phương pháp. “Một mặt, tiến hành tổng – tích hợp hạt nhân hợp lý và hợp tình của các kinh nghiệm khinh – trọng và của các lý thuyết sẵn có. Tuy không có diễn ngôn Khinh – trọng dưới dạng tường minh nhưng xét về thực chất thì có hàm ý khinh – trọng (sau khi được giải mã). Mặt khác, đề xuất giả thuyết Khinh – Trọng dưới dạng phổ quát, phổ dụng rồi cố gắng biến giả thuyết nền tảng mới đó thành lý thuyết nền tảng mới thông qua 3 bước cơ bản:
1- Lập thuyết khinh-trọng,
2- Luận thuyết khinh-trọng,
3- Dụng thuyết khinh-trọng”

Trong suốt quá trình Lập thuyết (xác lập cơ sở riêng của lý thuyết); Luận thuyết (xác định Logic biện luận và tiến hành luận thuyết); Dụng thuyết (triển khai vận dụng lý thuyết trong phạm vi sức mạnh và khả năng của lý thuyết đó) Khinh – trọng ông đã nhấn mạnh đến hai cuộc tiếp xúc quan trọng.

Trước hết là cuộc tiếp xúc với quan điểm của S. Hungtinton qua cuốn Sách “Sự va chạm giữa các nền văn minh” (2003). Cuộc tiếp xúc này đã khiến ông mừng rỡ vì đã giúp ông biểu đạt chiều chuyển động; và phương thức chuyển động của các mô hình như tuyến tính hay zích zắc; thuận nghịch hay bất thuận nghịch,… Ông đã mô phỏng theo hình vẽ của S. Hungtinton để thể hiện phương thức điều chỉnh thay đổi … để hoàn thiện lý thuyết Khinh – Trọng của mình.

Năm 2009, lý thuyết Khinh – Trọng hoàn thiện thêm một bước sau cuộc tiếp xúc với quan điểm của Edgar Morin qua công trình “Nhập môn tư duy phức hợp” (Nxb Tri thức, 2009). Cuộc tiếp xúc này giúp ông “khẳng định tư duy Khinh – Trọng là một tư duy phức hợp cao độ… Từ đây, diễn ngôn của ông có thay đổi khi nhắc đến các cặp nan đề bao giờ cũng có cụm từ “hoặc/và”. Trải qua những cuộc tiếp xúc quan trọng đó, gắn với quá trình vận dụng nghiên cứu các trường hợp cụ thể cùng với các học trò, đồng nghiệp. Lý thuyết Khinh – Trọng của GS Tô Duy Hợp ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, và phát triển.

Quá trình lập và luận thuyết trải qua nhiều gian nan, hao tổn sức lực tâm huyết của ông. Nhưng quá trình dụng thuyết và phổ biến lý thuyết lại đòi hỏi bản lĩnh của một nhà lý luận & khoa học một người khởi xướng lý thuyết mới. Nhất là trong bối cảnh Việt Nam. Lý thuyết là vấn đề mới mẻ ít được quan tâm và cũng khó được chấp nhận. (vì “bụt chùa nhà không thiêng”!) thì càng phải bản lĩnh hơn. Trước hết là bản lĩnh để đương đầu với những phê phán từ các đồng nghiệp.

Như GS Tô Duy Hợp chia sẻ; “Một thuyết khoa học mới ra đời và phát triển được trong bối cảnh Việt Nam là không dễ dàng. Nhiều khi, sự phê phán không đến từ chuyên môn mà xuất phát từ sự đố kỵ; ghen ghét; không muốn người khác thành công hay không chấp nhận sự sáng tạo mang tính cá nhân của người khác. Có những người đồng nghiệp đã nói với tôi là. “Rất tiếc, anh chưa đủ điên rồ để trở thành chân lý!”. Thậm chí có người còn chỉ thẳng tôi hỏi là “Rút cuộc, ở đất nước này anh khinh ai? Anh trọng ai phải nói rõ?”… Những phê phán như không đúng về mặt chuyên môn và không có giá trị về quan điểm, nhưng đã gây ra những khó khăn, trở ngại cho hà nghiên cứu”.

Chia sẻ của GS. Tô Duy Hợp khi nói về thuyết khinh-trọng.

Bên cạnh đó, sự phê phán mang tính chuyên môn lại là một điều cần thiết. Như GS Tô Duy Hợp nhận định:
“Quá trình phê phán rất quan trọng trong nghiên cứu lý luận & khoa học. Đặc biệt là vấn đề lý thuyết. Nó gắn liền với quá trình lập thuyết và luận thuyết. Phải có tinh thần cầu thị, lắng nghe ý kiến của nhiều người; nhiều phía và tiếp nhận nhiều ý kiến khác chiều, trái chiều. Tóm lại là cần có bản lĩnh để lắng nghe, điều chỉnh nhằm hoàn thiện hơn lập luận của mình”.

Với tinh thần đó, trong nhiều năm qua. Ông và các học trò cộng sự đã không ngừng bổ sung hoàn thiện ý thuyết Khinh – Trọng. Càng ngày, việc vận dụng lý thuyết này vào các nghiên cứu càng được mở rộng. Được nhiều nhà nghiên cứu, đào tạo, quản lý quan tâm hơn. Quá trình Lập Thuyết, Luận Thuyết, và Dụng Thuyết khinh – trọng vẫn tái tiếp diễn bất tận, vì phù hợp với các giá trị cốt lõi của quá trình mưu sinh và phát triển lành mạnh của mỗi Cá nhân, mỗi Cộng đồng, và của toàn Nhân Loại, đó là: CHÂN (ĐÚNG), THIỆN (TỐT), MỸ (ĐẸP),  LỢI ÍCH, LINH THIÊNG.

Trần Thị Minh Anh
Theo TÔ DUY HỢP VÀ LÝ THUYẾT KHINH-TRỌNG của Ths. Bùi Minh Hào.

Xem thêm:
Chọn người lãnh đạo giáo dục như thế nào?
Khung cửa hẹp
SỞ HỮU TRÍ TUỆ TỪ TRI THỨC DÂN GIAN
“KHÔNG BAO GIỜ TỪ BỎ” LÀ BẤT KHẢ THI